TÌNH HÌNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH (TNTT) TẠI VIỆT NAM:
TNTT có chiều hướng gia tăng. Hàng năm có khoảng 880.000
ca thương tích với trên 33.000 ca tử vong. Riêng ở trẻ em, số ca tử vong do
TNTT chiếm tới 75%, trong khi tử vong do bệnh truyền nhiễm chỉ là 12%, do bệnh
mạn tính là 13%.
Tai nạn thương tích gây thiệt hại hàng năm đối với Việt
Nam khoảng 2 tỷ USD, chưa kể đến nguồn lực lớn của ngành y tế dành cho cứu
chữa, phục hồi chức năng cũng như gánh nặng về tâm lư, kinh tế cho gia đình, xã
hội.
Theo thống kê của UNICEF, ở Việt Nam, chỉ trong năm 2007,
7.894 trẻ em và người chưa thành niên dưới 19 tuổi tử vong do TNTT, tương đương
với hơn 21 em/ngày.
Nguyên nhân chính dẫn tới tử vong do tai nạn thương tích
là: chết đuối, tai nạn giao thông đường bộ, ngộ độc, bỏng nước sôi, điện giật,
ngã.
Phần lớn nguyên nhân để xảy ra những tai nạn thương tâm
này là do thiếu sự chăm sóc của gia đình hoặc do người lớn thiếu ý thức bảo vệ
an toàn cho trẻ. Đồng thời, điều kiện môi trường sinh hoạt và học tập của học
sinh còn nhiều bất cập, chưa đảm bảo đầy đủ an toàn.
Tại Thành Phố Hồ
Chí Minh :
- Năm 2007 : 244,688 trường hợp - chết 2,458
- Năm 2008 : 245,907 trường hợp - chết 2,298
- Năm 2009 : 257,229 trường hợp - chết 2,235
- Năm 2010 : 300,284 trường hợp - chết 2,201
5 nguyên nhân thương
tích hàng đầu gây tử vong :
- Tai nạn giao
thông đường bộ - Đuối nước - Bỏng -
Ngã - Ngộ độc
II. NHỮNG VẤN ĐỀ
CẦN LƯU Ý TRONG TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG TNTT :
1. Phân loại TNTT
: Có 2 loại TNTT:
+ TNTT không chủ định (vô ý): Thương
tích gây nên không chủ ý của những người bị TNTT hay của những người khác như:
chấn thương do giao thông, do ngã, lửa cháy, chết đuối, ngộ độc.
+ TNTT có chủ định: Thương tích gây nên
có sự chủ ý của người bị TNTT hay của người khác như: Tự tử, giết người, bạo
lực nhóm (chiến tranh), đánh nhau, hiếp dâm, hành hạ trẻ em, người già, bạo lực
học đường.
2. Yếu tố gây ra
TNTT
Giới tính: Trẻ trai do bản tính hiếu động nên thường có xu hướng dễ bị TNTT hơn so với trẻ gái.
Hoàn cảnh kinh tế: gia
đình khó khăn, trẻ thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, người lớn.
Thời điểm: ngày nghỉ, kỳ nghỉ hè chiếm tỷ lệ cao hơn.
Đặc điểm tâm sinh
lý
Trẻ dưới 3 tuổi: Lứa tuổi
này các cơ quan trong cơ thể phát triển chưa hoàn thiện. Trẻ tập bò, tập đi
lại, tò mò muốn hiểu biết xung quanh, chưa nhận thức được mối nguy hiểm xung
quanh, chưa biết tự bảo vệ mình do đó thường bị:
Dị vật đường thở do sặc
bột, sặc thức ãn. Bị dị vật lỗ mũi, lỗ tai... do tự nhét hột đỗ, hột lạc.
Bỏng, nhất là bỏng nước sôi. Ngã. Bị đuối nước do bị ngã xuống nước. Ðiện giật.
Trẻ từ 3 đến 13 tuổi: do trẻ hiếu động, nghịch ngợm, chạy chơi tự do ngoài vòng kiếm
soát của bố mẹ nên thường bị ngã, điện giật, đuối nước, đánh nhau, bị bỏng.
Trẻ từ 14 đến 18 tuổi: Ở lứa tuổi này trẻ em muốn tự khẳng định
mình, muốn trở thành người lớn, dễ bị kích động, muốn tách khỏi sự quản lư của
gia đình và nhà trường... nên rất dễ bị tai nạn giao thông, đuối nước, ngã
…
Các nguy cơ xảy ra
TNTT cho trẻ em ở nhà:
Bỏng: nước sôi
(canh, nước uống, cám lợn, mỡ, hơi nước nồi áp suất). Bưng bê không cẩn thận
nên bị nước sôi đổ vào người. Cho trẻ ăn cháo, cơm, canh nóng. Nghịch bật lửa,
diêm, đốt giấy, rơm, nướng khoai. Khi sử dụng bếp, bàn là, ổ điện, dây điện hở,
bình nóng lạnh. Chập điện đứt dây. Phỏng ống pô xe máy, que cơi lửa.
Ngã: Trèo ghế,
cửa sổ, thang, cầu thang, vấp ngã. Trượt chân do sàn nhà ướt. Đùa nghịch, xô
đẩy nhau. Chị bế em. Ngã từ tầng cao xuống. Ngủ ngã từ giường xuống đất. Tập xe
đạp, xe gắn máy.
Ngộ độc: Thức
ăn ôi thiu, quá hạn, nấm độc, rửa không kĩ, nấu không chín. Đồ uống có ga.
Thuốc không theo chỉ dẫn (thuốc dùng để nhỏ lại đem uống, …), uống nhầm thuốc
do thuốc đựng trong chai nhựa. Dị ứng thuốc, mĩ phẩm, phấn rôm. Đồ ăn tẩm thuốc
diệt chuột, thuốc trừ sâu. Ăn cá nóc, thịt cóc.
Ngạt, tắc đường
thở: Vật nhỏ (lạc, đậu, đỗ, khuy áo, ngô, đồ chơi); sặc thức ăn, (bột, cơm), thuốc uống do trẻ bị bóp mũi khi cho trẻ uống
thuốc hoặc đút cho trẻ lúc trẻ đang khóc; hóc đồ chơi; trùm kín chăn khi ngủ;
đùa nghịch dùng túi nilon trùm lên đầu nhau; dùng than để sưởi khi ngủ dẫn đến
ngộ độc thán khí.
Chết đuối: Ngã
vào chậu, xô, chum, giếng, cống, hố, bể cá.
Động vật cắn: chó, mèo, lợn, ong, kiến, côn trùng (rết,
bọ cạp), rắn, …
Nguy cơ xảy ra
TNTT trẻ em ở trường
Bỏng: Thức ăn
quá nóng. Học sinh làm thí nghiệm hoá học, vật lí, sinh vật.
Ngã: Đùa
nghịch, xô đẩy nhau. Nhảy dây, nhảy ngựa, chạy nhảy. Tập thể dục thể thao. Leo
trèo cây, cổng, cửa, bàn ghế.
Chết đuối: Ngã
vào giếng, cống, hố, …
Ngộ độc: Ăn
uống ở căng tin, cổng trường những đồ ăn không rõ nguồn gốc (tương ớt, pate,
thịt… có hàn the). Nước uống có phẩm màu, quá hạn. Không đảm bảo vệ sinh khi ăn
uống (rửa tay, hoa quả trước khi ăn).
Nguy cơ xảy ra
TNTT trẻ em nơi công cộng
Bỏng: Sét đánh
do thả diều, bắt chim. Nghịch đốt pháo. Dây điện đứt do cột điện đổ, gió bão.
Chơi dưới dưới đường dây điện (khi nắng và khi mưa). Hố vôi không có rào chắn
bảo vệ. Những nơi hàn điện. Nơi sản xuất hoá chất (axit).
Tai nạn giao thông:
Không tuân thủ luật giao thông, đua xe đạp, xe máy. Đi hàng hai, hàng ba, đùa
nghịch, xô đẩy nhau. Chạy qua đường. Đá bóng, chơi đùa dưới lòng đường.
Chết đuối: Bơi
ở hồ, ao, sông, biển. Biết bơi nhưng bị chuột rút. Cứu người chết đuối không
đúng cách. Sụt cát, sa lầy, hố vôi, công trường đang xây dựng. Bị cảm khi bơi.
Ngã nước bất ngờ. Ngã sấp mặt xuống bùn. Nước xoáy, lật thuyền, bơi xa đuối
sức. Gặp độ sâu bất ngờ bị hụt chân, kẹt chân vào đá. Vật sắc nhọn (cọc tre)
đâm vào chân, vào người.
Ngộ độc: Ăn
hoặc bị dính quả dại, phấn hoa, nhựa cây.
Khác: bom mìn
sót lại, mảng tường trần, vật nặng rơi
từ trên cao xuống. Dao kéo, vật sắc nhọn. Tai nạn do máy móc (tuốt lúa, máy
nghiền). Chơi đồ chơi nguy hiểm (súng bắn đạn nhựa…).
3. Các biện pháp
phòng tránh:
Giáo dục truyền
thông :
Cần thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi (trong gia đình,
trường học, cơ sở bảo trợ xã hội, nơi công cộng, vui chơi giải trí) hướng dẫn,
tuyên truyền cho mọi người, nhất là trẻ em nhận biết được các nguy cơ có thể xảy
ra tai nạn, hướng dẫn trẻ em đọc các biển báo nguy hiểm, biển báo về an toàn
giao thông để chủ động phòng tránh và cách xử lí ban đầu khi tai nạn xảy ra.
- Ở trường học,
nhà trẻ:
Dạy trẻ không xô đẩy, rượt đuổi nhau. Không chơi với
các vật nhọn như compas, kéo ....
Sắp xếp đồ chơi hợp lý không để vướng trẻ đi lại.
Không chứa nước trong xô chậu
Giáo dục luật
giao thông, bơi trong trường
học
Hướng dẫn cách
phòng điện giật cho trẻ lớn
Hướng dẫn cách sơ cấp cứu cho trẻ lớn
Có túi thuốc, tủ thuốc cấp cứu để phòng khi TNTT bất ngờ
xảy ra.
Có biển báo nơi nguy hiểm cho trẻ biết để phòng tránh
Hình thức truyền thông:
- Để trẻ dễ nhận biết và nhớ, cần truyền thông giáo dục bằng hình ảnh, tờ bướm,
áp phích, tổ chức trò chơi nhận biết biển báo giao thông, các biển báo nguy
hiểm (cấm trèo, cấm lửa) để trẻ hiểu và phòng tránh tai nạn.